Ở phụ nữ trước tuổi mãn kinh, tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do xơ vừa động mạch ít hơn so với nam giới ở độ tuổi từ 36 - 45 thì phụ nữ ít hơn 6 lần so với nam giới về nguy cơ bệnh lý tim mạch. Nhưng sau mãn kinh, sự khác biệt này không còn nữa, nhất là sau tuổi 75. Những điều ghi nhận trên cho chúng ta nghĩ rằng sự hiện diện của buồng trứng được xem như một yếu tố bảo vệ đối với bệnh xơ vữa động mạch.
Một bằng chứng gián tiếp cho thấy: khi nghiên cứu dịch tễ học của bệnh tim mạch đa số là ở các bệnh nhân nam, không thấy nghiên cứu bệnh tim mạch đặc biệt trên phụ nữ.
Mãn kinh không phải đóng vai trò chính trong bệnh xơ vữa động mạch, mà còn do nhiều yếu tố khác như tuổi di truyền gia đình, bệnh cao huyết áp, béo phì, nghiện thuốc lá, tiểu đường, tăng lipid trong máu...
Năm 1973, tác giả Bengtson đã chứng minh có sự liên quan giữa mãn kinh sớm với sự tăng nguy cơ về bệnh mạch máu.
|
Những nguy cơ bệnh tim mạch
|
|
Nam và nữ |
Nữ |
|
Cholesterol cao
Huyết áp cao
Tiểu đường
Tăng cân
Nghiện thuốc lá
Không luyện tập thể dục
Stress
Tiền sử gia đình có bệnh tim |
Hàm lượng estrogen thấp (mãn kinh)
Cắt tử cung và buồng trứng
Mãn kinh sớm (khoảng 40 tuổi).
Dùng thuốc uống ngùa thai lâu dài. |
Năm 1976, nghiên cứu của tác giả Framingham, sau đó 1987, nghiên cứu của Boston về tương lai xã hội cho phép khẳng định rằng nguy cơ của bệnh mạch vành ở phụ nữ mãn kinh cao hơn 2,2 lần ở phụ nữ chưa mãn kinh cùng lứa tuổi.
Trong một ghi nhận của tác giả Boston, nguy cơ nhồi máu cơ tim sẽ nhiều hơn và sớm hơn ở phụ nữ mãn kinh. Đặc biệt nhất là sau khi mổ cắt buồng trứng: cắt buồng trứng ở tuổi 35, nguy cơ tăng lên gấp 7,2 lần. Cắt tử cung và cắt luôn buồng trứng còn có thể đưa đến hậu quả tăng tỷ lệ tử vong có nguồn gốc tim mạch còn nguy hiểm hơn là mục đích dự phòng bệnh ung thư buồng trứng.